Kẻ đong đo thời gian và thế gian
SGTT.VN - Trên Facebook tuần qua, cộng đồng mạng gởi tặng nhau nhiều tản văn ngắn được trích từ cuốn sách này. Họ nói với nhau rằng, đang có một “cơn sốt nhẹ” mà Márai Sándor mang lại: “cơn sốt” văn học Hungary.
Thực ra, Márai Sándor (ảnh) – nhà văn được xếp vào hàng lớn nhất châu Âu thế kỷ 20 – đến với bạn đọc Việt Nam trong vòng ba năm nay, qua các tiểu thuyết: Những ngọn nến cháy tàn, Di sản của Eszter…
Bốn mùa, trời và đất là sự nối kết hai cực trong một trí tuệ; vượt qua cõi “tự trị” phân tích tính của tư duy phương Tây, sự gò bó của bối cảnh sống bức bối của một Hungary khép kín giữa Đông Âu thời toàn trị để vượt thoát ra bên ngoài, bắt tay với Lão tử, giao hoà với nhà Phật, đi đến cái tự tại minh triết của phương Đông. Vì thế, thấu hiểu cõi thời gian mênh mông bất tận, nghe trong những chuyển điệu giao hoà của đời sống, chúng ta bắt gặp một Márai Sándor với bản lĩnh khắc kỷ sáng tạo phương Tây mà cũng rất gần gũi phương Đông khoáng đạt, hài hoà.
Trong tư thế của một kẻ “đong đo thời gian và thế gian”, ông nhìn về cái đẹp với một sự hài hoà và hướng nội, với một sự kiêu hãnh nội tâm: “Mô tả ghi lại được khoảnh khắc khi cái đẹp, sự diệu kỳ hun đúc bởi chất liệu và tâm hồn, mong manh và như một lớp men, vỡ vụn trên gương mặt người phụ nữ, vì sự hoà hợp – mà vẻ đẹp bề ngoài chỉ là hệ luỵ – của tâm hồn và tính cách đã bị phá vỡ. “Lạ thật, cô ta xấu đi!” – người ta nói và nhún vai. Đúng, cô ấy xấu đi vì sự tàn phai từ nội tâm. Đẹp nghĩa là trong sáng, theo đúng nghĩa của ngôn từ. Những từ khác chỉ là sự trang điểm” (Cái đẹp).
Bản lĩnh của một bậc thầy về tản văn, trước hết thể hiện ở sự quan sát và khả năng chiêm nghiệm, vui đùa tự do với các ý tưởng, nắm bắt từng chuyển điệu nội thức cùng với ngoại giới. Những tản văn được viết không khuôn phép, đôi khi khước từ cả sự diễn giải để tìm kiếm khả năng thuyết phục, mà cô đọng hàm súc, vừa như những ý tưởng rời được ghi vội trong sổ tay nhà văn khi đi dạo trước những phong cảnh lạ hay chớp bắt những thi tứ mới vừa lại trầm ngâm, độc sáng và u mặc như những diễn ngôn của một triết gia. Có tản văn chỉ đúng một câu nhưng phải đọc nhiều lần và nhận ra sau những chữ là một sự tự trào: “Cuộc đời tôi thiếu vắng đúng con người mà tôi đang định viết thư cho đây” (Bức thư).
Và, đến lúc nào đó, những ý niệm đủ tạo ra sức mạnh gợi mở con đường hướng nội nơi người đọc. Những câu chữ đủ quyền năng để dẫn bạn đi vào trường ý thức của chính mình và từ đó, vượt qua vùng hữu thức để tự lần lối đi lên khám phá một cõi miền siêu thức, chạm đến cái siêu ngã.
|
Márai Sándor sinh ngày 11.4.1900. Viết báo, làm thơ, viết tiểu thuyết. Từ năm 1945 ông là viện sĩ viện Hàn lâm Hungary. Năm 1948 ông sang Thuỵ Sĩ, sau đó là Ý, Hoa Kỳ. Những năm cuối đời ông hoàn toàn rút vào ẩn dật; sau cái chết của vợ và con trai, ông sống trong cảnh nghèo nàn, bệnh tật. Ngày 21.2.1989, ông tự kết liễu đời mình tại San Diego, Hoa Kỳ.
Márai Sándor được độc giả Việt Nam biết đến lần đầu qua tiểu thuyết Những ngọn nến cháy tàn (tủ sách Nhịp Cầu Thế Giới, tháng 11.2008). Năm 2010 được giới văn học Hungary coi là năm Márai Sándor với những hoạt động phong phú kỷ niệm 110 năm ngày sinh của văn hào này.
|
Cuốn sách dày dặn này tập hợp hai tập tản văn nổi tiếng của Márai Sándor: Bốn mùa (1938), Trời và đất (1942). Ở Bốn mùa, có 12 phần nhỏ, tương ứng với 12 tháng; riêng Trời và đất có ba phần chính: Trời và đất, Ars Poetica (Nghệ thuật thi ca), Muối và tiêu. Đáng chú ý trong phần Muối và tiêu, nhiều đoản văn của ông đi sâu khám phá tâm trạng của “tuổi muối tiêu”, thấy được cái hữu hạn, phù du, trải nghiệm về sự sống, cái chết… nhưng điềm tĩnh hướng đến một nhận thức về hạnh phúc là, không gì khác, biết “chấp nhận và hiểu biết thực tại”.
Xuyên suốt cuốn sách là cuộc vận động tâm thức không ngừng của một con người sống trong điệu luân vũ thời gian, hơn cả, là tâm thức một nhà văn thấy được linh hồn vạn vật thể hiện qua từng chi tiết đời sống: một cái liếc mắt, một thành phố, một bóng cây, ngọn núi, gió mưa hay sao trời… và thấy được sự diệu kỳ của sáng tạo qua sách vở, thưởng ngoạn, giao cảm nghệ thuật qua Pushkin, Gogol, Lev Tolstoi, Van Gogh, Marcel Proust, Kant, Gide, Nietzsche hay Goethe…
“Người nào không phản kháng cái chết một cách hữu hiệu, không thực sự yêu quý nổi tôi” (Phản kháng). Vậy, khi đọc cuốn sách này, cũng đòi hỏi ở người đọc một sự phản kháng cần thiết nào đó, như một nỗ lực để giành lại sức mạnh nội tâm.
Nguyễn Vĩnh Nguyên
(Đọc Bốn mùa, trời và đất, tản văn của Márai Sándor, Giáp Văn Chung dịch, Nhã Nam & NXB Văn Học, 2010)