sgtt.vn, 08.02.2012  
img Đọc báo theo ngày:
Ngày 04.09.2010, 14:52 (GMT+7)

Cái bếp và mối tình quê

SGTT.VN - Tôi thử hỏi bác gái vì sao đã có điện, có gas rồi mà vẫn còn xài bếp củi. Bác nói nhà có cả nồi điện, bếp gas nhưng cất trong tủ, năm ngoái có xài mấy tháng nhưng thấy bỏ củi vườn tiếc quá, vả lại chụm củi quen rồi.

Tháng chín năm ngoái (2003), chúng tôi đi thực hiện bộ phim tài liệu về cuộc đời sông nước ở miền Tây. Khi đến xã Thanh Tùng, huyện Đầm Dơi, chúng tôi được chính quyền địa phương hướng dẫn đến nhà bác Hai Đường ở xóm Bàu Dừa, một lão nông tri điền đã có mặt trên vùng đất này từ khi mới khẩn hoang.

Bếp của người Nam bộ. Ảnh: Trần Việt Đức

Ngôi nhà bác Hai thuộc mẫu nhà truyền thống của vùng đồng bằng sông Cửu Long, một ngôi nhà ngói ba gian kèm theo một cái chái đâm nóc xuống sông mà dân gian hay gọi là chữ đinh. Ở nông thôn ngày nay, nhiều gia đình khá giả xây nhà tường lợp ngói nhưng kiểu cách vẫn là sự phiên bản từ ngôi nhà lá. Chỉ cần nhìn vào lối kiến trúc ấy thì ta có thể hiểu ngay chủ nhân của nó là một lão nông tri điền.

Khi bắt đầu thân thiện như người nhà, tôi nhào vô làm bếp như một thói quen. Và tôi giật mình nhận ra cái bếp nhà của bác Hai Đường, một mẫu bếp quen thuộc mà kể từ khi làm dân thị thành đến giờ tôi không gặp: cái khung bếp đứng đóng bằng gỗ đước già bóng lộn, mặt bếp lót gạch tàu. Trên bếp đặt một cái cà ràng và hai cái lò đất nung. Dưới bếp chất củi dừa thành hàng, thẳng tấp. Từ chỗ bếp nhìn lên mái nhà là một cái giàn treo lá dừa để dành mồi lửa hoặc để nấu nước pha trà. Trên tấm vách bên phải là hai hàng chai thuỷ tinh đựng muối và nước mắm. Tôi thử đếm có trên ba chục chai, mỗi chai được một cái phễu bằng giấy tập học trò úp lên. Bên vách trái là một dãy xoong, thau và chảo nhôm. Tất cả được xếp ngay hàng thẳng lối, cái lớn theo hàng lớn, cái nhỏ theo hàng nhỏ. Dù chúng được nấu bằng củi nhưng không thể tìm thấy cái xoong nào bị ám khói xung quanh. Tôi thử hỏi bác gái vì sao đã có điện, có gas rồi mà vẫn còn xài bếp củi. Bác nói nhà có cả nồi điện, bếp gas nhưng cất trong tủ, năm ngoái có xài mấy tháng nhưng thấy bỏ củi vườn tiếc quá, vả lại chụm củi quen rồi.

Khi chúng tôi đang thực hiện những cảnh quay về cái bếp và chảo cá bổi chiên xù thì bác gái sai con dâu Út lấy trái dừa ra nạo để hầm mấy nải chuối xiêm.

Tiền cảnh là nàng dâu và mẹ chồng, người lột chuối, người nạo dừa trên bộ ván, hậu cảnh là cái bếp lửa bập bùng, một hàng xoong chảo lấp lánh phía sau.

Thấy chúng tôi làm việc có vẻ say sưa, bác Hai gái nói: “Hồi xưa, cũng vì cái bếp mà tao mới được về làm vợ bác Hai mày”. Con dâu Út nhìn bà mẹ chồng rồi cười nói: “ Bởi vậy cho nên bây giờ má vẫn bắt con nấu củi, không cho xài điện, xài gas”. Con dâu Út lại nói như mắc cỡ: “Nói chơi cho vui vậy chớ nếu con không giỏi chuyện bếp núc thì còn lâu mới được về đây làm dâu của má”.

Đấn lúc trà dư tửu hậu, men rượu ngây người, bác Hai Đường bắt đầu tâm sự. Tôi chưa từng thấy ông già nào ở từng tuổi ấy mà kể về mối tình đấu một cách ngậm ngùi như kẻ đang yêu, lại kể trước mặt người vợ của mình. Thế nhưng bác Hai gái chẳng những không buồn mà còn kể theo bằng tấm lòng chia sẻ: “Cũng tại cái bếp, chớ nếu không thì ổng với cô Dung thành vợ thành chồng rồi, đâu đến lượt tôi”.

Bác Hai Đường kể, ngày xưa bác với cô Năm Dung yêu nhau say đắm, mối tình kéo dài hơn hai năm trời nhưng cha mẹ bác nhất quyết không cho cưới. Bà lão nói rằng cô Dung tuy đẹp người đẹp nét nhưng chuyện bếp núc rất lôi thôi. Bước vào nhà sau lúc nào cũng thấy bụi tro,củi tàn đầy trên bếp, cái xoong một nơi, cái thau một nẻo, nồi niêu dính đầy lọ nghẹ. Cơm thừa cá cặn cứ để trong xoong trong chảo mặc cho mèo liếm chó tha.

Ở nông thôn, không chỉ ngày xưa mà ngay cả bây giờ, mấy ông già bà cả luôn xem cái bếp là tiêu chuẩn hàng đầu để làm thước đo công-dung-ngôn-hạnh của người con gái. Bác Hai Đường nói rằng cô Dung hồi ấy đúng là hơi bê bối trong việc bếp núc, cô hay đi sớm về khuya, suốt ngày cứ thấy cô trên chiếc xuồng chèo từ sông này qua rạch khác.

Một đêm nọ, cô Dung hẹn bác Hai Đường đến một ngã ba sông để chia tay, không phải lấy chồng mà cô vào vùng căn cứ kháng chiến. Lúc bấy giờ, bác Hai mới hiểu ra rằng cô Dung không phải là người phụ nữ của gia đình. Dù đã muộn nhưng bác vẫn về thanh minh với mẹ cha. Nhưng bà cụ lại bảo: “Con gái mà làm cán bộ lại càng không được, nhà mình là nông dân, cần phải có con dâu biết lo bếp núc. Cưới con dâu làm cán bộ, lâu lâu nó xẹt về nhà hỏi bà già chồng “cái địa điểm gạo” ở đâu, làm sao tao chịu nổi”. Một năm sau, bác Hai bị ép đi cưới vợ, một người vợ có đủ tiêu chuẩn do cha mẹ mình lựa chọn. Bác không chê vào đâu được, nhưng bác không yêu, bác vẫn còn nhớ cô Dung. Một hôm, bác đưa vợ về quê thăm cha mẹ. Chèo được một đoạn đường, bác ghé xuồng lại dưới một bóng cây và nghiêm chỉnh nói: “Mấy tháng qua, kể từ ngày cưới đến nay tôi chưa bao giờ đụng tới người em, em có biết vì sao không? Vì tôi không yêu em nên tôi muốn giữ cho em còn nguyên vẹn để em lấy người chồng khác, em đừng trách tôi, hãy tha thứ cho tôi. Tình cảm không thể nào miễn cưỡng”.

Bác trở về thú thật với cha mẹ mình. Cuối cùng rồi ông cũng bỏ qua mọi chuyện. Chỉ còn cô Dung là bác không tìm lại được.

Sau phong trào Đồng Khởi, xóm Bàu Dừa được chọn làm vùng căn cứ, cô Dung có trở lại đôi lần, nhưng bây giờ mọi sự đã đổi thay, vợ chồng cô Dung trở thành em kết nghĩa vợ chồng bác Hai Đường.

Rồi chồng cô Dung hy sinh, để lại ba đứa con, một trai hai gái. Sau giải phóng, cô về Bạc Liêu công tác, vừa nuôi con ăn học. Thỉnh thoảng vợ chồng bác Hai Đường vượt cả trăm cây số lên thăm, mang gạo, mang dừa, mang khô bổi lên làm quà.

Tôi kể cho bác Hai nghe rằng hồi năm 1994, khi tôi làm bộ phim tài liệu Tấm lòng đất mũi thì cô Năm Dung là một nhân chứng của câu chuyện cảm động về sự hy sinh của người phụ nữ trong chiến tranh. Tôi có đến nhà cô hai lần để thu hình, ăn hai bữa cơm. Tôi còn nhớ cái bếp nhà cô cũng sạch đẹp và ngăn nắp giống như cái bếp nhà bác Hai Đường. Chỉ có khác là cô xài than đước, ba cái lò than lộng trong xô nhôm trắng bóng.

Một năm sau, tôi được tin cô Năm Dung qua đời vì chứng bệnh ung thư gan, lúc ấy tôi đang ở xa nên không kịp về để tiễn cô, một người đã tận tình để lại trong bộ phim của tôi những khung hình vô giá. Bác Hai Đường kể rằng, ngày cô Dung lìa trần, bác và bác Hai gái đã trực tiếp đứng ra lo ma chay tồng táng.

Kể cho chúng tôi nghe câu chuyện tình gần năm mươi năm ấy, trong đôi mắt trũng sâu của ông già vẫn còn đọng những ngấn nước long lanh. Bác Hai gái ngồi cạnh ông, bà buông một câu trong sự ngậm ngùi: “Tội nghiệp mấy đứa nhỏ con cô Dung, cả năm rồi tôi không lên thăm tụi nó”.

Trước lúc chia tay, tôi định hỏi bác gái rằng, việc bác cất cái nồi điện và cái bếp gas trong tủ để xài bếp củi có liên quan gì đến câu chuyện tình năm cũ của bác trai không. Nhưng ngẫm đi ngẫm lại rồi thôi, tôi không dám hỏi.

VÕ ĐẮC DANH

(trích từ Hương vị quê nhà, SGTT Xuân 2004)

  
  
Đánh giá bài viết:  

(11 điểm,3 lần)

ý kiến bạn đọc
Nội dung (Xin bạn đọc vui lòng gõ tiếng Việt có dấu)  
Kiểu gõ:
Họ và tên  
Địa chỉ email    
Nhập mã bảo vệ:  
Tài liệu đính kèm: (.doc, .jpg, .gif, .zip, .rar, .pdf)
 Thông báo cho tôi qua email khi có phản hồi mới
SGTT.VN - Cô bạn hàng xóm hớn hở qua nhà rủ: “Bà dì tui ở Mỹ mới về, có món này ngon lắm!” Chạy qua, thấy một dĩa rau xào xanh mướt, cả nhà sực một mùi mắm nưng nức còn nghi ngút khói trên bàn. Thì ra, cái món ngon ở Mỹ là rau muống xào mắm ruốc! Tôi chưng hửng.

Xem thêm »

08:05 ngày 06.02.2012
SGTT.VN - Cứ vào dịp cuối năm, dân du lịch sành ăn lại lên Sa Pa không chỉ để tận hưởng không khí lạnh, ngắm thiên nhiên hoang sơ mà còn tìm ăn cho được món cải mầm đá tưởng chỉ có trong truyện Trạng Quỳnh.